Đăng nhập | Đăng ký

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ NĂM 2016

  • 26-06-2017
  • Đã xem 196 lần

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

_______________________________

 

BỘ NGOẠI GIAO

VỤ LUẬT PHÁP VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

_______________________________

 

 

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU

LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ NĂM 2016

 

Luật điều ước quốc tế đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 09/4/2016. Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 19/4/2016. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, thay thế Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005.

I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI LUẬT KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (sau đây gọi là Luật năm 2005, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006, bãi bỏ Pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998) được ban hành có ý nghĩa quan trọng về đối nội và đối ngoại, phục vụ tích cực, kịp thời cho yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là gia nhập Tổ chứcThương mại thế giới (WTO), ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Luật năm 2005 đã tạo điều kiện cho các Bộ, ngành chủ động đề xuất ký kết điều ước quốc tế (ĐƯQT) theo một quy trình thống nhất, tạo cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT một cách đầy đủ, nhịp nhàng, phù hợp với quy định của luật pháp và thông lệ quốc tế.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Luật năm 2005 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập dẫn đến việc áp dụng, thực hiện Luật và thực thi ĐƯQT chưa nhất quán, hiệu quả và hiệu lực không cao, chưa đảm bảo yêu cầu cải cách tư pháp, không đáp ứng kịp thời các yêu cầu ngày càng cao của tình hình thực tế trong bối cảnh Đảng, Nhà nước ta đang chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đề cao việc thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực cũng làm cho một số quy định của Luật không còn phù hợp hoặc đặt ra yêu cầu bổ sung những quy định còn thiếu để triển khai Hiến pháp. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, ĐƯQT rất đa dạng về lĩnh vực, đối tác, mức độ phức tạp. So với thời điểm ban hành Luật năm 2005, năng lực, trình độ của các cơ quan, cán bộ trực tiếp tham gia quá trình ký kết và thực hiện ĐƯQT nhìn chung đã được nâng lên. Trong khi đó, Luật năm 2005 chỉ quy định một quy trình ký kết ĐƯQT duy nhất, áp dụng cho cả ĐƯQT phức tạp, thời gian nghiên cứu, đàm phán kéo dài cũng như ĐƯQT đơn giản hoặc theo mẫu ta đã ký kết, hoặc có yêu cầu gấp về thời gian. Việc thực hiện quy trình nhiều khi mang tính hình thức, chồng chéo, gây tốn thời gian, công sức mà chưa đề cao được trách nhiệm của mỗi cơ quan.

Trước yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đòi hỏi một quy trình ký kết ĐƯQT nhanh chóng, linh hoạt khi cần tranh thủ cơ hội, phục vụ lợi ích của đất nước, đồng thời chặt chẽ về thẩm quyền, có sự kiểm tra, phân công, giám sát nhằm tránh sơ hở, rủi ro; quyền chủ động đề xuất phải đi kèm với trách nhiệm trong việc ký kết ĐƯQT và nghĩa vụ triển khai thực hiện ĐƯQT. Luật ĐƯQT cần được sửa đổi để phản ánh nhu cầu trên.

Thứ hai, hiệu quả của việc ký kết cũng như thực hiện ĐƯQT chưa cao. Trong số khoảng 2000 ĐƯQT được ký trong gần 10 năm thực hiện Luật năm 2005, một số ĐƯQT chưa đem lại hiệu quả thiết thực về kinh tế - xã hội. Bên cạnh các quy định thường gặp trong ĐƯQT chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các quốc gia thành viên, có những ĐƯQT có quy định làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cho cá nhân, tổ chức; mỗi loại quy định đòi hỏi cách thức thực hiện khác nhau ngay cả khi cùng tồn tại trong một ĐƯQT. Một số ĐƯQT không triển khai được vì thiếu cơ sở thực tế, kém khả thi hoặc do thiếu nguồn lực. Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện ĐƯQT có lúc còn chậm trễ, ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam.

Trách nhiệm của cơ quan đề xuất ký kết ĐƯQT chưa gắn với trách nhiệm triển khai thực hiện cam kết của phía Việt Nam theo ĐƯQT. Việc tổ chức theo dõi, đánh giá việc thực hiện ĐƯQT, bao gồm cả đánh giá hiệu quả của ĐƯQT, ban hành văn bản pháp luật để thực hiện các cam kết quốc tế chưa được thực hiện thường xuyên, có hệ thống. Nguyên nhân của những vấn đề nêu trên không chỉ do tổ chức thực hiện Luật, mà còn do những bất cập trong ngay Luật năm 2005.

Thứ ba, phạm vi điều chỉnh của Luật năm 2005 quá rộng, bao gồm cả các văn kiện không ràng buộc về pháp lý, không tạo ra quyền, nghĩa vụ đối với Việt Nam, không phải là ĐƯQT theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế. Do các văn bản này được coi là “điều ước quốc tế” theo quy định của Luật ĐƯQT nên trình tự, thủ tục áp dụng đối với việc ký kết về nguyên tắc phải tuân thủ quy trình chung của Luật ĐƯQT, nhưng khó áp dụng trên thực tế; giá trị pháp lý của các văn bản này cũng không được xác định nhất quán, gây khó khăn nhất định trong việc ký kết, sửa đổi, gia hạn cũng như việc thực hiện.

Thứ tư, Hiến pháp năm 2013 sửa đổi một số quy định liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong việc ký kết, gia nhập ĐƯQT, dẫn đến yêu cầu phải sửa đổi các quy định tương ứng trong Luật ĐƯQT, bổ sung một số quy định còn thiếu về quy trình thực hiện các thay đổi về thẩm quyền nêu trên. Các quy định của Hiến pháp năm 2013 về đối ngoại nói chung và ký kết ĐƯQT nói riêng cũng như các nguyên tắc và tư tưởng chỉ đạo sửa đổi Hiến pháp năm 2013 cần được triển khai, cụ thể hóa trong luật.

Thứ năm, Luật ĐƯQT hiện hành chưa có các quy định về tham vấn, lấy ý kiến của các đối tượng chịu tác động của ĐƯQT; chưa quy định việc công bố, công khai, minh bạch hóa nội dung ĐƯQT để tạo thuận lợi cho việc triển khai và tuân thủ thực hiện ĐƯQT phù hợp với cam kết về minh bạch hóa trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà ta đã ký kết và đang đàm phán.

Thứ sáu, về kỹ thuật văn bản, Luật ĐƯQT có một số nội dung được quy định quá chi tiết, rải rác ở nhiều điều, thiếu linh hoạt dẫn đến khó theo dõi, áp dụng; một số quy định lấy từ Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế chỉ có giá trị trong quan hệ ký kết, thực hiện ĐƯQT giữa các quốc gia, không có giá trị áp dụng trong nước và trong thực tiễn cũng chưa bao giờ được áp dụng.

Từ những lý do trên, việc sửa đổi một cách toàn diện Luật ĐƯQT năm 2005 là nhu cầu cấp thiết, nhằm triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013, đảm bảo tính hợp hiến, tính chặt chẽ nhưng cũng đảm bảo tính linh hoạt của Luật ĐƯQT, phục vụ chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.

II. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

Một là, thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về đối ngoại, đặc biệt là chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Luật ĐƯQT phải tạo được khung pháp lý vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, đáp ứng nhu cầu ký kết và thực hiện ĐƯQT phù hợp với lợi ích của đất nước. Quyền chủ động của các cơ quan trong đề xuất ký kết và triển khai thực hiện các ĐƯQT phải đi kèm với trách nhiệm, có cơ chế phân công, phối hợp, kiểm tra.

Hai là, triển khai thực hiện các quy định mới của Hiến pháp năm 2013, bổ sung, điều chỉnh các nội dung về thẩm quyền cũng như thủ tục, quy trình để thực hiện thẩm quyền hiến định của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực ĐƯQT, tôn trọng và góp phần triển khai thực hiện, bảo vệ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nguyên tắc dân chủ, pháp quyền đã được nêu bật trong Hiến pháp năm 2013.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế nhằm thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết quốc tế của Việt Nam, thực hiện quy định tại Điều 12 Hiến pháp: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốcvà điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Hình thành một quy trình nhất quán, liên tục giữa ký kết và thực hiện ĐƯQT, theo đó làm rõ trách nhiệm của cơ quan đề xuất và các cơ quan khác xuyên suốt từ giai đoạn chuẩn bị, tổ chức đàm phán tới chấp nhận sự ràng buộc của ĐƯQT và tổ chức thực hiện ĐƯQT.

Bốn là, nội dung của Luật phải phù hợp với luật pháp quốc tế và các luật liên quan; kế thừa, tiếp tục hoàn thiện và phát triển những quy định của Luật ĐƯQT hiện hành còn phù hợp với thực tế; đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; có tham khảo pháp luật và thực tiễn các nước.

III. CƠ CẤU, BỐ CỤC           CỦA LUẬT

1. Cơ cấu

Tương tự Luật ĐƯQT năm 2005, các quy định của Luật được sắp xếp theo trình tự của hoạt động ký kết ĐƯQT, bắt đầu từ đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập tới hiệu lực, thông báo đối ngoại, tổ chức thực hiện ĐƯQT, quản lý nhà nước và giám sát việc ký kết và thực hiện ĐƯQT. Luật ĐƯQT gộp các nội dung thuộc các giai đoạn ký kết ĐƯQT, bao gồm cả gia nhập ĐƯQT vào chương Ký kết ĐƯQT, gộp các nội dung về thực hiện thủ tục đối ngoại vào Chương “Thủ tục đối ngoại” và bổ sung Chương “Trình tự, thủ tục rút gọn”. Cụ thể có những thay đổi về cơ cấu như sau:

- Cơ cấu chương: Luật ĐƯQT giữ cơ cấu 10 chương tương tự như 09 chương của Luật năm 2005, với một số điều chỉnh: (1) chuyển Chương III về “Gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên” thành mục 7 trong Chương II của Luật về “Ký kết điều ước quốc tế”; (2) bổ sung hai Chương mới về “Trình tự, thủ tục rút gọn” và “Thông báo đối ngoại”, trong đó nội dung Chương “Trình tự, thủ tục rút gọn” (Chương VII) là các nội dung hoàn toàn mới (xem mục 4.3 phần IV dưới đây); Chương “Thủ tục đối ngoại” (Chương VI) thực chất không có nội dung gì mới mà chỉ để nhóm lại tất cả các quy định liên quan đến thủ tục đối ngoại đã nêu tại các Điều 24, 41, 47, 53, 55, 59, 60, 64, 70, 84, 96 của Luật năm 2005 nhằm làm cho Luật được gọn nhẹ, dễ tra cứu.

- Cơ cấu mục: sự điều chỉnh quan trọng nhất là tại Chương II về “Ký kết điều ước quốc tế”, Luật ĐƯQT năm 2016 đã tách riêng các quy định về đàm phán và về ký. Trong Luật 2005, đàm phán và ký ĐƯQT được quy định gộp trong cùng một mục, với quy định về thẩm quyền, các bước thủ tục và hồ sơ như nhau. Trên thực tế, một số điều ước có thể xin phép đàm phán và ký cùng một thời điểm, nhưng cũng có nhiều trường hợp cần phải tiến hành thủ tục đề xuất đàm phán và thủ tục đề xuất ký riêng biệt. Một số yêu cầu về các bước thích hợp đối với thủ tục ký điều ước lại không thích hợp trong khâu đàm phán và ngược lại, như việc xin ý kiến về chủ trương, phương án đàm phán, xây dựng dự thảo ĐƯQT chỉ thích hợp khi chuẩn bị đàm phán; việc thẩm định, kiểm tra chỉ có ý nghĩa khi văn bản đã được thống nhất sơ bộ với đối tác, chuẩn bị ký. Trong một số trường hợp, việc thực hiện các bước giống hệt nhau đối với đề xuất đàm phán và đề xuất ký cũng dẫn đến thủ tục nặng nề, kéo dài, không đáp ứng được nhu cầu đối ngoại. Luật ĐƯQT năm 2016 tách mục “Đề xuất đàm phán, ký ĐƯQT” của Luật 2005 thành 02 mục riêng: Mục về đàm phán ĐƯQT quy định trách nhiệm đề xuất, thẩm quyền quyết định và hồ sơ trình về việc đàm phán; Mục về ký ĐƯQT quy định trách nhiệm đề xuất ký, thẩm quyền quyết định ký và hồ sơ trình về việc ký ĐƯQT.

- Cơ cấu điều: Luật ĐƯQT năm 2016 sửa đổi, bổ sung, thay thế nội dung của 107 điều của Luật năm 2005 và sắp xếp thành 84 điều, thay đổi số thứ tự của các điều cho phù hợp bố cục mới của Luật.

2. Bố cục

Luật ĐƯQT năm 2016 gồm 10 chương với 84 điều, tăng 01 chương và giảm 23 điều so với 9 chương, 107 điều của Luật ĐƯQT năm 2005, cụ thể như sau:

- Chương 1: Những quy định chung, gồm 07 điều (từ Điều 1 đến Điều 7) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc ký kết và thực hiện ĐƯQT; danh nghĩa ký kết ĐƯQT; ngôn ngữ, hình thức của ĐƯQT; ĐƯQT và quy định của pháp luật trong nước; giám sát hoạt động ký kết và thực hiện ĐƯQT.

- Chương 2: Ký kết điều ước quốc tế, gồm 07 mục, 39 điều (từ Điều 8 đến Điều 46), cụ thể như sau:

   + Mục 1. Đàm phán điều ước quốc tế: gồm 05 điều (từ Điều 8 đến Điều 12) quy định về thẩm quyền đề xuất đàm phán ĐƯQT; chuẩn bị đàm phán ĐƯQT; thẩm quyền quyết định đàm phán ĐƯQT; hồ sơ trình về việc đàm phán ĐƯQT; tổ chức đàm phán ĐƯQT;

   + Mục 2. Đề xuất ký điều ước quốc tế: gồm 09 điều (từ Điều 13 đến Điều 21) quy định về thẩm quyền đề xuất ký ĐƯQT; Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc ký ĐƯQT; thẩm quyền, nội dung quyết định ký ĐƯQT; nội dung tờ trình đề xuất ký ĐƯQT; hồ sơ trình về đề xuất ký ĐƯQT; trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong việc kiểm tra ĐƯQT; hồ sơ đề nghị kiểm tra ĐƯQT; trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc thẩm định ĐƯQT; hồ sơ đề nghị thẩm định ĐƯQT;

   + Mục 3. Ủy quyền đàm phán, ký điều ước quốc tế, ủy nhiệm tham dự hội nghị quốc tế: gồm 01 điều (Điều 22) quy định về ủy quyền, ủy nhiệm;

   + Mục 4. Tổ chức ký điều ước quốc tế: gồm 05 điều (từ Điều 23 đến Điều 27) quy định về rà soát, đối chiếu văn bản ĐƯQT; ký ĐƯQT; ký ĐƯQT trong chuyến thăm của đoàn cấp cao; trách nhiệm gửi văn bản ĐƯQT sau khi ký; trao đổi văn kiện tạo thành ĐƯQT;

   + Mục 5. Phê chuẩn điều ước quốc tế: gồm 09 điều (từ Điều 28 đến Điều 36) quy định về các loại ĐƯQT phải được phê chuẩn; thẩm quyền phê chuẩn, nội dung văn bản phê chuẩn ĐƯQT; đề xuất phê chuẩn ĐƯQT; hồ sơ trình về việc phê chuẩn ĐƯQT; phạm vi thẩm tra ĐƯQT; thẩm quyền thẩm tra ĐƯQT; hồ sơ đề nghị thẩm tra ĐƯQT; thủ tục thẩm tra ĐƯQT; trình tự Quốc hội xem xét, phê chuẩn ĐƯQT tại kỳ họp Quốc hội;

   + Mục 6. Phê duyệt điều ước quốc tế: gồm 04 điều (từ Điều 37 đến Điều 40) quy định về các loại ĐƯQT phải được phê duyệt; thẩm quyền phê duyệt, nội dung văn bản phê duyệt ĐƯQT; đề xuất phê duyệt ĐƯQT; hồ sơ trình về việc phê duyệt ĐƯQT;

   + Mục 7. Gia nhập điều ước quốc tế: gồm 06 điều (từ Điều 41 đến Điều 46) quy định về thẩm quyền đề xuất gia nhập ĐƯQT; Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc gia nhập ĐƯQT; thẩm quyền, nội dung quyết định gia nhập ĐƯQT; trình tự, thủ tục Quốc hội quyết định gia nhập ĐƯQT; hồ sơ trình về việc gia nhập ĐƯQT; trách nhiệm gửi văn bản ĐƯQT sau khi nhận được quyết định gia nhập.

- Chương III: Bảo lưu điều ước quốc tế, gồm 05 điều (từ Điều 47 đến Điều 51) quy định về bảo lưu của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chấp nhận hoặc phản đối bảo lưu của bên ký kết nước ngoài; thẩm quyền quyết định chấp nhận hoặc phản đối bảo lưu của bên ký kết nước ngoài; trình tự, thủ tục quyết định chấp nhận hoặc phản đối bảo lưu của bên ký kết nước ngoài; rút bảo lưu hoặc rút phản đối bảo lưu.

- Chương IV: Hiệu lực, sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế, gồm 05 điều (từ Điều 52 đến Điều 56) quy định về hiệu lực của ĐƯQT; áp dụng tạm thời ĐƯQT; sửa đổi, bổ sung, gia hạn ĐƯQT; chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện ĐƯQT; thông báo liên quan đến hiệu lực của ĐƯQT.

- Chương V: Lưu chiểu, lưu trữ, sao lục, đăng tải điều ước quốc tế, gồm 06 điều (từ Điều 57 đến Điều 62) quy định về lưu chiểu ĐƯQT nhiều bên; lưu trữ ĐƯQT; sao lục ĐƯQT; đăng tải ĐƯQT; cấp bản sao ĐƯQT; cơ sở dữ liệu về ĐƯQT.

- Chương VI: Thủ tục đối ngoại, gồm 07 điều (từ Điều 63 đến Điều 69) quy định về cấp giấy ủy quyền, giấy ủy nhiệm; thủ tục đối ngoại về việc phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập ĐƯQT; thủ tục đối ngoại về bảo lưu; thủ tục đối ngoại về việc chấm dứt áp dụng tạm thời ĐƯQT; thủ tục đối ngoại về việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn ĐƯQT; thủ tục đối ngoại về việc chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện ĐƯQT; đăng ký ĐƯQT.

- Chương VII: Trình tự, thủ tục rút gọn, gồm 06 điều (từ Điều 70 đến Điều 75) quy định về áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn; đồng thời đề xuất đàm phán và ký ĐƯQT; đàm phán, ký ĐƯQT theo trình tự, thủ tục rút gọn; sửa đổi, bổ sung ĐƯQT theo trình tự, thủ tục rút gọn; gia hạn ĐƯQT theo trình tự, thủ tục rút gọn; từ chối áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn.

- Chương VIII: Tổ chức thực hiện điều ước quốc tế, gồm 05 điều (từ Điều 76 đến Điều 80) quy định về kế hoạch thực hiện ĐƯQT; trách nhiệm của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, cơ quan đề xuất trong việc thực hiện ĐƯQT; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Chương IX: Quản lý nhà nước về điều ước quốc tế, gồm 03 điều (từ Điều 81 đến Điều 83) quy định về nội dung quản lý nhà nước về ĐƯQT; cơ quan quản lý nhà nước về ĐƯQT; kinh phí bảo đảm công tác ĐƯQT.

- Chương X: Điều khoản thi hành, gồm 01 điều (Điều 84) quy định về hiệu lực thi hành.

IV. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CHỦ YẾU

Các sửa đổi, bổ sung, quy định mới của Luật ĐƯQT năm 2016 tập trung vào việc  thực hiện các mục tiêu đặt ra đối với việc sửa đổi Luật, cụ thể như sau:

1. Tên gọi của Luật

Tên gọi hiện nay của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 chưa bao quát hết phạm vi điều chỉnh của Luật bao gồm ký kết, gia nhập, bảo lưu, lưu chiểu, lưu trữ, sao lục, công bố, đăng ký, thực hiện, giải thích, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện ĐƯQT (Điều 1 Luật năm 2005). Tên gọi của Luật sửa đổi được chuyển thành “Luật Điều ước quốc tế” vì các lý do sau: (i) Tên của Luật hiện hành dài mà chưa bao quát hết phạm vi điều chỉnh của Luật; (ii) Bảo đảm tính khái quát, dễ hiểu, phù hợp với thực tiễn tên các luật của ta (ví dụ: Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp…); (iii) Phù hợp với thực tiễn quốc tế, ví dụ: “Công ước Viên về Luật điều ước”, “Luật về các điều ước quốc tế của Liên bang Nga”, “Luật về trình tự ký kết điều ước nước CHND Trung Hoa”; chương “Ký kết điều ước quốc tế” trong Luật về Đối ngoại của Estonia.

2. Các hành vi bị nghiêm cấm

Luật ĐƯQT không nêu cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại Luật. Tuy nhiên, Điều 3 của Luật nêu rõ các nguyên tắc trong quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, cụ thể như sau:

“Điều 3. Nguyên tắc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế

1. Không trái với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và những nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật quốc tế.

3. Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, phù hợp với đường lối đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

4. Tuân thủ điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

3. Sửa đổi, bổ sung để thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về đối ngoại, đặc biệt là chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế thông qua khung pháp lý vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, đáp ứng nhu cầu ký kết và thực hiện điều ước quốc tế phù hợp với lợi ích của đất nước

3.1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Luật Điều ước quốc tế năm 2016 xác định phạm vi điều chỉnh của Luật bao gồm việc ký kết, bảo lưu, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện, lưu chiểu, lưu trữ, sao lục, đăng tải, đăng ký và tổ chức thực hiện ĐƯQT (Điều 1). So với Luật 2005, Luật năm 2016 bỏ cụm từ “gia nhập” trong quy định về phạm vi điều chỉnh, do “gia nhập” là một nội dung trong hoạt động “ký kết” (định nghĩa tại khoản 10, Điều 2 của Luật).

Bên cạnh đó, việc sửa đổi định nghĩa ĐƯQT (khoản 1 Điều 2) là điểm mới cơ bản, có tính bao trùm, tác động đến nhiều nội dung của Luật. Khái niệm “điều ước quốc tế” được chỉnh sửa phù hợp với quy định của Công ước Viên về Luật điều ước năm 1969, theo đó ĐƯQT được hiểu là “thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác(khoản 1 Điều 2). Như vậy, đối với các văn bản thỏa thuận được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nhưng không có giá trị ràng buộc pháp lý quốc tế thì việc ký kết và thực hiện không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Đây là các văn bản đối ngoại, có nội dung là các cam kết chính trị nên việc ký kết các văn bản này sẽ tiếp tục được điều chỉnh theo các quy định về quản lý hoạt động đối ngoại và về thẩm quyền, chức năng của các cơ quan tham gia hoạt động đối ngoại. Các ngân hàng, cơ quan của nước ngoài ký kết thỏa thuận vay với Việt Nam nếu chỉ nhân danh ngân hàng, cơ quan đó mà không thay mặt cho quốc gia họ thì không được coi là bên ký kết điều ước quốc tế và do đó thỏa thuận vay ký với các ngân hàng, cơ quan này không phải là ĐƯQT (việc ký kết, thực hiện các văn bản loại này tiếp tục được điều chỉnh tại Luật Quản lý nợ công và các văn bản hướng dẫn thi hành, do vẫn là “thỏa thuận vay” theo khái niệm được sử dụng trong Luật Quản lý nợ công).

Định nghĩa ĐƯQT trong Luật ĐƯQT năm 2016 hẹp hơn định nghĩa ĐƯQT trong Luật ĐƯQT năm 2005, khắc phục được vướng mắc do phạm vi điều chỉnh của Luật ĐƯQT năm 2005 quá rộng, tạo điều kiện cho việc áp dụng thủ tục ký kết ĐƯQT cũng như triển khai thực hiện đối với toàn bộ ĐƯQT và chỉ đối với ĐƯQT theo đúng nghĩa phù hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn.

Việc xác định rõ ĐƯQT là văn bản thỏa thuận “làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế” làm rõ bản chất của ĐƯQT là văn bản tạo quyền, nghĩa vụ giữa các quốc gia, tránh hiểu nhầm ĐƯQT là văn bản quy phạm pháp luật trong nước. Việc định nghĩa chính xác hơn khái niệm ĐƯQT cho phép hiểu rõ và phân biệt quy trình ký kết, thực hiện ĐƯQT với quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước.

Đồng thời, Luật ĐƯQT năm 2016 xác định “bên ký kết nước ngoài” (khoản 3 Điều 2) được hiểu bao gồm quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác được công nhận là chủ thể của pháp luật quốc tế. Như vậy, các phong trào giải phóng dân tộc, các vùng lãnh thổ và các thực thể khác thiếu một trong các thành tố để trở thành quốc gia nhưng vẫn được công nhận là chủ thể của luật pháp quốc tế như: Toà thánh Vatican, Hồng Công, Nhà nước Pa-lét-xtin, một số Vùng hoặc Cộng đồng của quốc gia được giao quyền ký ĐƯQT trong những lĩnh vực nhất định.

Việc điều chỉnh lại định nghĩa về điều ước quốc tế hẹp hơn so với định nghĩa tại Luật 2005 sẽ khắc phục vướng mắc nảy sinh trong quá trình thi hành Luật ĐƯQT năm 2005, tạo điều kiện cho việc áp dụng thủ tục ký kết cũng như triển khai thực hiện ĐƯQT.

Về đối tượng áp dụng, Luật không có quy định cụ thể về nội dung này nhưng có thể hiểu đối tượng áp dụng của Luật ĐƯQT là các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi liên quan đến ký kết, thực hiện điều ước quốc tế.

3.2. Sửa đổi, bổ sung tạo quy trình đầy đủ, thống nhất về ký kết điều ước quốc tế, nhấn mạnh quyền chủ động và trách nhiệm của cơ quan đề xuất, tăng cường cơ chế phân công, phối hợp với các cơ quan liên quan

Để khắc phục bất cập của Luật ĐƯQT năm 2005, trong đó quy trình, thủ tục đàm phán, ký được quy định như nhau, dẫn đến các bước thích hợp đối với thủ tục ký ĐƯQT lại không thích hợp trong khâu đàm phán và ngược lại, thủ tục cồng kềnh, kéo dài, không đáp ứng được nhu cầu đối ngoại, Luật ĐƯQT năm 2016 đã bổ sung một mục (Mục 1 Chương II) về Đàm phán ĐƯQT gồm 5 điều, tách riêng với Mục Đề xuất ký ĐƯQT. Quy trình đàm phán ĐƯQT theo mục này là một quy trình chuẩn, gồm các bước từ chuẩn bị đàm phán (Điều 9) đến tổ chức đàm phán (Điều 12).

Trong các quy định mới về đàm phán ĐƯQT, Luật ĐƯQT năm 2016 quy định quyền chủ động đi đôi với trách nhiệm của cơ quan đề xuất từ giai đoạn chuẩn bị đàm phán đến tổ chức đàm phán, đồng thời có cơ chế phân công, phối hợp lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan trước khi trình Chính phủ về việc đàm phán (từ Điều 8 đến Điều 12). Kế thừa Luật ĐƯQT năm 2005, Luật ĐƯQT 2016 quy định các cơ quan liên quan phải được lấy ý kiến trước mỗi giai đoạn then chốt của quá trình ký kết. Trước khi trình Chính phủ về việc ký, gia nhập thì ĐƯQT phải được Bộ Ngoại giao kiểm tra, Bộ Tư pháp thẩm định, kể cả trường hợp thực hiện theo thủ tục rút gọn.

Nhằm tăng cường hiệu quả thẩm định ĐƯQT và trách nhiệm nghiên cứu, đánh giá của cơ quan đề xuất, ngoài các tài liệu quy định trong Luật ĐƯQT năm 2005, hồ sơ đề nghị thẩm định phải có Báo cáo đánh giá sự phù hợp giữa quy định của ĐƯQT với quy định của pháp luật Việt Nam và dự kiến kế hoạch thực hiện ĐƯQT (Điều 21). So với Luật 2005, Luật ĐƯQT năm 2016 bổ sung một điều về hồ sơ đề nghị kiểm tra ĐƯQT tại Mục 2 Chương II (Điều 19).

3.3. Quy định linh hoạt phù hợp với nhu cầu của hoạt động đối ngoại

Để quy trình có thể linh hoạt áp dụng cả trong trường hợp đàm phán, ký những ĐƯQT phức tạp và trường hợp đàm phán, ký ĐƯQT đơn giản, Luật ĐƯQT năm 2016 quy định trong trường hợp trước khi đàm phán, cơ quan đề xuất đã tập hợp được đầy đủ tài liệu cần thiết trong hồ sơ đề xuất ký ĐƯQT thì có thể đồng thời đề xuất đàm phán và ký ĐƯQT (Điều 71).

Để đáp ứng yêu cầu thực tế cần có thủ tục nhanh/thủ tục rút gọn cho việc ký kết một số loại ĐƯQT để phục vụ yêu cầu đối ngoại và hội nhập, Luật bổ sung một Chương về trình tự, thủ tục rút gọn (Chương VII) về đàm phán, ký, sửa đổi, bổ sung, gia hạn áp dụng đối với một số trường hợp, gồm: (i) ĐƯQT theo mẫu được quy định tại ĐƯQT giữa Việt Nam với cùng một bên nước ngoài hoặc theo mẫu được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, hoặc (ii) theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Theo thủ tục rút gọn, các cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời trong thời hạn ngắn hơn so với thủ tục thông thường; hồ sơ đề nghị kiểm tra, thẩm định, hồ sơ trình về việc ký ĐƯQT không cần phải có Báo cáo đánh giá tác động về chính trị, kinh tế, xã hội và những tác động khác của ĐƯQT, Báo cáo đánh giá sự tương thích của ĐƯQT với ĐƯQT trong cùng lĩnh vực mà Việt Nam là thành viên và Báo cáo đánh giá sự phù hợp giữa quy định của ĐƯQT với quy định của pháp luật Việt Nam (nhưng dự thảo Tờ trình về việc ký ĐƯQT phải có những nội dung này).

Chương này cũng quy định rõ thủ tục rút gọn không áp dụng đối với việc đàm phán, ký, sửa đổi, bổ sung, gia nhập ĐƯQT thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội, do đây là những loại ĐƯQT quan trọng đòi hỏi phải thực hiện quy trình, thủ tục hết sức chặt chẽ (khoản 2 Điều 70). Về nguyên tắc, Luật không quy định thủ tục rút gọn cho việc phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT do phê chuẩn, phê duyệt ĐƯQT thường không có yêu cầu gấp về thời gian, hơn nữa đây là khâu cần tiến hành cẩn trọng trước khi chấp nhận sự ràng buộc của ĐƯQT đối với Việt Nam.

Do Luật Quản lý nợ công và Nghị định 79/2010/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý nợ công hiện đang quy định quy trình rút gọn riêng cho việc đàm phán, ký, phê duyệt, sửa đổi, bổ sung các ĐƯQT về khoản vay cụ thể nhân danh Chính phủ phù hợp với đặc thù của nhóm ĐƯQT về vay nợ nước ngoài, Luật ĐƯQT năm 2016 dẫn chiếu đến quy định của pháp luật về quản lý nợ công về trình tự, thủ tục đàm phán, ký, phê duyệt, sửa đổi, bổ sung các ĐƯQT loại này (khoản 3 Điều 70).

4. Sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường hiệu quả thực hiện điều ước quốc tế

Chương VIII (Tổ chức thực hiện ĐƯQT) sửa đổi, bổ sung một số nội dung quan trọng liên quan đến việc xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện ĐƯQT, trong đó trách nhiệm của cơ quan đề xuất trong việc xây dựng kế hoạch thực hiện ĐƯQT có sự kết nối với giai đoạn trước khi ký, chấp nhận sự ràng buộc của ĐƯQT đối với Việt Nam. Cụ thể, cơ quan đề xuất phải dự kiến kế hoạch thực hiện khi trình đề xuất ký ĐƯQT (khoản 2 Điều 17 Luật) và phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch tổ chức thực hiện trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được thông tin về việc ĐƯQT có hiệu lực (khoản 2 Điều 76). Luật bổ sung một điều mới (Điều 79), làm rõ trách nhiệm của cơ quan đề xuất trong tổ chức thực hiện ĐƯQT, cụ thể là: Xây dựng lộ trình và biện pháp cụ thể để thực hiện ĐƯQT; kiến nghị hoặc ban hành, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện ĐƯQT; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc tiến hành biện pháp chỉ đạo, điều hành để thực hiện ĐƯQT; chủ trì hoặc phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến ĐƯQT; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ những biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của Việt Nam trong trường hợp ĐƯQT bị vi phạm; báo cáo về tình hình ký kết và thực hiện ĐƯQT; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ thống nhất cách hiểu và áp dụng quy định của ĐƯQT trong trường hợp có sự khác nhau về cách hiểu và áp dụng quy định đó. Luật cũng bổ sung quy định rõ về trách nhiệm của Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp trong việc thực hiện ĐƯQT (Điều 77 và Điều 78).

5. Sửa đổi, bổ sung để triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013

Luật 2016 cũng làm rõ các thẩm quyền hiến định về đàm phán ĐƯQT, trong đó có quyền “quyết định đàm phán” của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ đối với loại ĐƯQT tương ứng, thẩm quyền này bao gồm thẩm quyền quyết định đàm phán, ủy quyền đàm phán, chủ trương đàm phán và kết thúc đàm phán (Điều 10). Chính phủ “tổ chức đàm phán” ĐƯQT nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước. Thủ tướng Chính phủ tổ chức đàm phán ĐƯQT nhân danh Chính phủ, đồng thời “chỉ đạo đàm phán” thông qua việc quyết định phương án đàm phán, duyệt dự thảo ĐƯQT của phía Việt Nam, thành phần đoàn đàm phán và quyết định xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình đàm phán (Điều 12).

Thủ tục trình Ủy ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội cho ý kiến trước khi ký, gia nhập ĐƯQT có quy định trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có liên quan chặt chẽ đến thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội. Hiến pháp năm 2013 (khoản 14 Điều 70) quy định các loại ĐƯQT thuộc thẩm quyền Quốc hội phê chuẩn sau khi ký, vì vậy Chủ tịch nước, Chính phủ không nhất thiết phải trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ký, gia nhập loại ĐƯQT đó. Tuy nhiên, đối với, ĐƯQT có nội dung khác hoặc chưa được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, ĐƯQT có quy định trái pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do Hiến pháp không quy định loại điều ước nêu trên thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội nên việc trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ký, gia nhập loại điều ước này là cần thiết để bảo đảm tôn trọng thẩm quyền ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 14 và Điều 42).

Thẩm quyền phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập ĐƯQT, các loại ĐƯQT phải phê chuẩn, phê duyệt được chỉnh sửa phù hợp với quy định tại Hiến pháp năm 2013. Luật ĐƯQT năm 2016 thể hiện lại quy định tại khoản 14 Điều 70 Hiến pháp về thẩm quyền của Quốc hội quyết định phê chuẩn, gia nhập ĐƯQT liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia của nước CHXHCN Việt Nam, ĐƯQT khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội. Luật cụ thể hoá quy định của Hiến pháp về ĐƯQT về “tư cách thành viên của CHXHCN Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng” thuộc thẩm quyền quyết định phê chuẩn, gia nhập, chấm dứt hiệu lực của Quốc hội, đó là các ĐƯQT về việc thành lập, tham gia tổ chức quốc tế và khu vực mà nếu tham gia, rút khỏi tổ chức đó sẽ ảnh hưởng đến chính sách cơ bản về đối ngoại, quốc phòng, an ninh, về phát triển kinh tế - xã hội, về tài chính, tiền tệ (khoản 1.b Điều 29). Đây là các chính sách cơ bản thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội theo khoản 4 Điều 70 Hiến pháp năm 2013.

Luật cũng làm rõ “ĐƯQT về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân thuộc thẩm quyền của Quốc hội quyết định phê chuẩn, gia nhập” để khắc phục vướng mắc do cách giải thích khác nhau về vấn đề này trong thời gian vừa qua như sau: ĐƯQT làm thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội (khoản 1.c Điều 29). Quy định này nhằm mục đích phân biệt các ĐƯQT về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân với các ĐƯQT về hợp tác chuyên ngành có liên quan đến quyền của cá nhân, nhưng không trực tiếp điều chỉnh quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như: ĐƯQT về tương trợ tư pháp, dẫn độ, chuyển giao người bị thi hành án phạt tù, nuôi con nuôi, phòng chống tội phạm và các ĐƯQT về hợp tác chuyên ngành khác.

6. Sửa đổi, bổ sung làm cho Luật đơn giản, bớt cồng kềnh, dễ hiểu, dễ áp dụng

Nhằm làm cho Luật đơn giản, bớt cồng kềnh, trong toàn bộ các khâu ký kết ĐƯQT, Luật ĐƯQT năm 2016 sửa đổi theo hướng không quy định một điều riêng về trình tự, thủ tục, do việc mô tả các bước trình tự, thủ tục chỉ diễn đạt lại quy định về thẩm quyền (ví dụ: nội dung “cơ quan đề xuất trình Chính phủ về việc ký” đã được thể hiện trong nội dung “cơ quan có thẩm quyền đề xuất ký” và “Chính phủ có thẩm quyền quyết định ký trên cơ sở đề xuất của cơ quan có thẩm quyền đề xuất ký”). Luật giữ nguyên quy định về thời hạn cho ý kiến, thời hạn kiểm tra, thẩm định của các cơ quan cấp Bộ, nhưng bỏ quy định về thời hạn để Chủ tịch nước và Chính phủ quyết định về việc ký ĐƯQT do quyết định của Chủ tịch nước và Chính phủ còn là quyết định chính trị, hơn nữa thời hạn này không phù hợp với thực tế nhu cầu đối ngoại.

Luật lược bỏ các điều khoản đã được luật pháp quốc tế quy định và chỉ có ý nghĩa trong quan hệ giữa các quốc gia, không có ý nghĩa khi đưa vào Luật ĐƯQT điều chỉnh quan hệ trong nước hoặc chỉ mang tính chất giải thích, có ý nghĩa về học thuật, nghiên cứu hơn là ý nghĩa quy phạm pháp luật. Những nội dung cần thiết, mang tính pháp lý, thể hiện thẩm quyền, sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong xử lý các vấn đề phát sinh sau khi ký ĐƯQT được sửa đổi phù hợp với quy định về thẩm quyền trong Hiến pháp năm 2013.

Liên quan đến sửa đổi, bổ sung, gia hạn ĐƯQT, Luật bổ sung quy định “việc ký kết điều ước quốc tế mới để sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế được thực hiện theo quy định tại Chương II của Luật này” (khoản 2 Điều 54), do thời gian vừa qua có sự giải thích khác nhau về thủ tục cần áp dụng trong trường hợp ký ĐƯQT mới để sửa đổi, bổ sung, gia hạn ĐƯQT.

Trong Luật hiện hành, thủ tục đối ngoại về ĐƯQT được quy định rải rác ở các chương, mục khác nhau nhưng có nội dung tương tự nhau. Việc thực hiện thủ tục đối ngoại theo các quy định này không có vướng mắc, tuy nhiên do quy định lặp lại ở nhiều chương, mục nên làm cho Luật cồng kềnh, khó theo dõi. Luật năm 2016 quy định ngắn gọn về thủ tục đối ngoại ĐƯQT trong một Chương, kế thừa nội dung các quy định liên quan của Luật hiện hành và không ảnh hưởng đến nguyên tắc, nội dung đã được thực hiện tốt trong thời gian vừa qua.

7. Sửa đổi, bổ sung nhằm tăng tính công khai, minh bạch đối với ĐƯQT và quá trình ký kết ĐƯQT

Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc cấp bản sao ĐƯQT theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin và phục vụ hoạt động tố tụng trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền yêu cầu cung cấp bản sao ĐƯQT, Luật bổ sung hai điều mới quan trọng: về cấp bản sao ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên được lưu trữ tại Bộ Ngoại giao (Điều 61) và về việc công khai toàn văn ĐƯQT, thông tin về hiệu lực của ĐƯQT đối với Việt Nam trên cơ sở dữ liệu ĐƯQT do Bộ Ngoại giao xây dựng và vận hành (Điều 62). Luật cũng quy định trách nhiệm của cơ quan đề xuất chủ trì tham vấn đại diện đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của điều ước quốc tế trong quá trình đàm phán ĐƯQT (khoản 3 Điều 12).

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các điều kiện bảo đảm thực hiện Luật

Về cơ bản, các hoạt động ký kết và thực hiện ĐƯQT đã được triển khai từ lâu nay theo quy định của Luật ĐƯQT năm 2005 cũng như các văn bản quy phạm pháp luật ban hành trước đó trong lĩnh vực này, nằm trong chức năng nhiệm vụ của các Bộ, ngành, cơ quan liên quan. Do đó, ảnh hưởng của việc ban hành Luật ĐƯQT 2016 đối với kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất bảo đảm cho hoạt động ký kết, thực hiện ĐƯQT là không lớn.

2. Dự báo tác động của Luật

Luật ĐƯQT năm 2016 có những điểm mới hết sức tiến bộ, thể hiện tính công khai, dân chủ, minh bạch, nhà nước pháp quyền, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp. Các quy định của Luật cũng bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành như Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật quản lý nợ công, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân… Việc ban hành Luật ĐƯQT có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, khắc phục kịp thời những bất cập của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005, phục vụ việc triển khai thực hiện chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12, thể chế hóa các quy định mới của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở nước ta, phục vụ đắc lực hơn nữa cho yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam, đảm bảo lợi ích của đất nước.

3. Tuyên truyền, phổ biến Luật

Dự kiến Luật sẽ được phổ biến cho đối tượng là các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, trong đó tập trung vào Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp (hai đơn vị có trách nhiệm trong việc kiểm tra, thẩm định ĐƯQT./.

-------------------------------------

 

Các tin khác